Synopsis
Phật giáo luôn xem vấn đề sống chết là điều quan trọng nhất cần phải được nhận hiểu một cách thấu đáo. Đây là điểm tương đồng giữa tất cả các tông phái khác nhau trong Phật giáo. Thiền tông luôn quan niệm sinh tử là việc tối quan trọng của một thiền giả, và chính v́ cái "sinh tử sự đại" này mà thiền sư Huyền Giác khi đến tham bái Lục tổ đă chống tích trượng đứng trơ trơ không lễ lạy! Chỉ sau khi giải quyết xong chuyện tối quan trọng này rồi ngài mới chí thành phủ phục lễ bái Tổ sư. V́ thế, có thể nói người tu Thiền không sợ chết, nhưng lại sợ nhất là không hiểu rơ về cái chết. Một khi chưa thấu triệt vấn đề sinh tử, hay nói một cách khác là chưa biết chắc được ḿnh sẽ đi đâu về đâu sau khi chấm dứt cuộc sống này, th́ hành giả dù có miên mật công phu đến đâu cũng chưa thể xem là đă nắm chắc được mục tiêu giải thoát.
Đối với các hành giả Mật tông th́ điều này lại càng dễ dàng nhận thấy hơn. Toàn bộ công phu hành tŕ tu tập của một hành giả trong suốt cuộc đời hầu như chỉ hướng đến một mục đích duy nhất là chuẩn bị cho cái chết. Sở dĩ như thế là v́ theo Mật tông th́ trừ ra một số rất ít các vị đại hành giả có thể đạt được chứng ngộ và giải thoát ngay trong đời sống, c̣n đối với hầu hết mọi người th́ thời điểm chết sẽ là cơ hội tốt nhất, thuận lợi nhất để một hành giả đạt được sự giải thoát. Kinh điển Mật tông dạy rằng, khi thân tứ đại tan ră cũng là thời điểm tâm thức sẽ có một sự "lóe sáng" rất gần với tâm thức giác ngộ, và nếu chúng ta không có sự tu tập để tận dụng cơ hội này th́ sau đó nghiệp lực sẽ hiện hành, tiếp tục xô đẩy, dẫn dắt chúng ta vào các cảnh giới tái sinh trong sáu nẻo luân hồi.
Riêng đối với những người tu tập theo pháp môn Tịnh độ th́ sự chết chính là đích đến của một đời tu tập. Giáo lư Tịnh độ không nói nhiều về tiến tŕnh của sự chết, nhưng xác quyết một điều là chắc chắn có sự tái sinh sau khi chết. Trên căn bản đó, nếu người tu chuẩn bị tốt các món tư lương là tín, nguyện và hạnh th́ chắc chắn sẽ được sự tiếp dẫn của đức Phật A-di-đà cùng Thánh chúng và được văng sinh về cơi Tịnh độ của Ngài.
About the Authors
Đại sư Dagpo Rinpoche (Dagpo Rimpoché - Lobsang Jhampel Jhampa Gyamtshog) là một trong những bậc cao tăng hiếm hoi của thời đại này. Ngài sinh năm 1932 tại Nandzong, vùng Dagpo thuộc Đông nam Tây Tạng, và cũng năm ấy Ngài được đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 13 Thubten Gyatso (1876-1933) xác nhận là hóa thân tái sanh của Đại sư Dagpo Lama Rinpoche Jampel Lhundrup thuộc ḍng truyền thừa Gelupa, từng là Viện trưởng Viện Dagpo Datsang ở vùng Dagpo. Năm lên sáu, Ngài được đưa vào học tại Tu viện Bamchoe (Bamchoe Monastery) và đến năm 13 tuổi Ngài được theo học ở Viện Dagpo Datsang (Dagpo Shedrup Ling), vốn nổi tiếng hết sức nghiêm khắc và kỷ cương. Tiêu chuẩn đào tạo của Viện này là rất cao xét về mọi lănh vực Phật học, nhưng đặc biệt là hết sức chú trọng vào giáo pháp Lam-rim. Đại sư Dagpo Rinpoche từng được theo học với 34 bậc thầy uyên bác về Phật học, trong số đó có cả đức Đạt-lai Lạt-ma 14 và hai bậc thầy dạy của ngài là Kyabje Ling Rinpoche và Kyabje Trijang Rinpoche. Đại sư Dagpo Rinpoche học tại Datsang cho đến năm 1954. Năm 1959, Ngài theo đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 sang Ấn Độ rồi ngay năm sau đó Ngài sang định cư ở Pháp theo lời mời của các giáo sư Đại học và sự cho phép của đức Đạt-lai Lạt-ma. Tại đây, Ngài dạy tiếng Tây Tạng ở trường Langues O trong suốt 16 năm, nhưng không giảng dạy Phật pháp v́ xét thấy chưa đủ cơ duyên. Từ năm 1976, vâng theo huấn thị của các bậc thầy của Ngài, Ngài bắt đầu việc giảng dạy Phật pháp. Năm 1978, Ngài thành lập Phật học viện Guepele Tchantchoup Ling (sau đó trở thành Ganden Ling Institute) tại Paris. Hiện nay Ngài vẫn thường xuyên thuyết giảng tại Phật học viện này. Vừa dạy Tạng ngữ, Ngài vừa đào tạo nhiều dịch giả, trong số đó có cô Marie Stella Boussemart chuyên dịch Tạng-Pháp và cô Rosemary Patton chuyên dịch Tạng-Anh. Họ đă theo Ngài trong tất cả các chuyến đi thuyết giảng khắp các nước như Italy, Switzerland, Holland, Belgium, Canada, Anh, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia... và đặc biệt là ngay tại Pháp quốc.
Nữ cư sĩ Giao Trinh, Pháp danh Diệu Hạnh, là dịch giả Phật giáo đă xuất bản nhiều dịch phẩm được chuyển dịch từ Hán ngữ, Anh ngữ cũng như Pháp ngữ. Hiện cô đang sống và làm việc tại Paris, Pháp quốc. Nhiều tác phẩm đă xuất bản như Truyện cổ Phật giáo, Truyền thuyết về Bồ Tát Quán Thế Âm, Sống một đời vui, Trí tuệ hoan hỷ...
Nguyễn Minh Tiến (bút danh Nguyên Minh) là tác giả, dịch giả của nhiều tác phẩm Phật học đă chính thức xuất bản từ nhiều năm qua, từ những sách hướng dẫn Phật học phổ thông đến nhiều công tŕnh nghiên cứu chuyên sâu về Phật học. Ông cũng đă xuất bản Mục lục Đại Tạng Kinh Tiếng Việt, công tŕnh thống kê và hệ thống hóa đầu tiên của Phật giáo Việt Nam về tất cả những Kinh điển đă được Việt dịch trong khoảng gần một thế kỷ qua. Các công tŕnh dịch thuật của ông bao gồm cả chuyển dịch từ Hán ngữ cũng như Anh ngữ sang Việt ngữ, thường được ông biên soạn các chú giải hết sức công phu nhằm giúp người đọc dễ dàng nhận hiểu. Ông cũng là người sáng lập và điều hành Cộng đồng Rộng Mở Tâm Hồn (www.rongmotamhon.net) với hơn 6.000 thành viên trên toàn cầu. Hiện nay ông là Thư kư của United Buddhist Foundation (Liên Phật Hội - www.lienphathoi.org) có trụ sở tại California, Hoa Kỳ. Tổ chức này đă tiếp quản toàn bộ các thành quả của Rộng Mở Tâm Hồn trong hơn mười năm qua và đang tiếp tục phát triển theo hướng liên kết và phụng sự trên phạm vi toàn thế giới.
"About this title" may belong to another edition of this title.